HƯỚNG DẪN THIỀN ĐỊNH – PHƯƠNG PHÁP THIỀN ĐỊNH

0
176

Hướng dẫn thiền định – Thiền là những phương pháp giúp hình thành thói quen tập trung tư tưởng để làm đúng công việc mà chúng ta muốn làm và đang làm. Đặc biệt thiền giúp điều chỉnh lại tình trạng mất cân bằng giữa hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh do quá trình sinh hoạt và làm việc căng thẳng gây ra.

 

 

huong-dan-thien-dinh

 

 

Có nhiều phương pháp thiền khác nhau, nhưng tựu trung vẫn là giúp người luyện tập có thể tập trung chú ý vào một điểm ở trong hoặc ngoài cơ thể, vào một đề tài, một hình ảnh hoặc một câu “chú” nhất định nhằm đưa cơ thể tiến dần vào tình trạng nhập tĩnh khi tâm không còn bất cứ ý niệm nào.

 

 

Thiền : Theo các Từ-điển Khang-Hy (Trung-Quốc) Đào-Duy-Anh và Thanh-Nghị (Việt Nam) đều có nghĩa là yên-lặng, suy tưởng.
Thiền là gọi tắt, chứ nói đủ tiếng theo Trung-Hoa là Thiền-Na, phiên âm từ chữ Dhyana của Ấn-Độ. Nhật-Bản gọi là Zen.
Dhyana (chữ Ấn-độ) có nghĩa là trầm-tư về một chân-lý, triết-lý hay Đạo-lý đến chỗ thấu- triệt  in sâu vào tâm-thức.

 
Định: Theo các Từ-điển nêu trên đều có nghĩa yên-lặng, xếp đặt được yên-ổn không bị lay động. Dẹp cho yên. Còn có nghĩa là Tỉnh. Nhà Phật có phép tu khiến cho thân-tâm yên-tỉnh không vọng-động gọi là “ nhập định”. Ấn-độ gọi là Samaddhi.
Thiền-định : Thiền (Dhyana) Định (Samadhi) trong nhiều trường hợp đồng nghĩa với nhau và thường dùng lẫn lộn, Trung-Hoa ghép lại thành danh từ kép “Thiền-định” để chỉ một trạng-thái yên-tỉnh bằng phép Định hoặc Thiền. Chứ đúng nghĩa thì Định là một trạng-thái tâm-lý chứng được bằng Thiền. Thiền là một tiến trình, Định là cứu cánh. (Theo Thiền luận của Suzuki/ Trúc-Thiên dịch).
Trong văn-học Phật-giáo cũng như giáo-lý của các hệ-thống tôn-giáo Ấn-Độ thì Thiền-định là phương tu để lắng đứng hết vọng-tưởng tán-loạn đưa đến cảnh-giới thuần-nhất để tâm đễ ngộ-nhập vào chân-lý.

 

 

huong dan thien dinh

 

 

 

Trên đây là nghĩa đen hai chữ Thiền-Định theo Đạo-học. Còn tùy theo trường-phái họ phân chia Thiền-định thành nhiều cấp bậc khác nhau, như có bốn cấp Thiền, tám cấp định v.v… nhưng đại-khái gồm các cách thực hành sau đây trong các tiết-mục kế tiếp.
Trong những buổi toạ thiền ở các dịp lễ hội đông người. Người mới tu lần đầu và thời gian thực tập không có nhiều thì ta vẫn linh động hướng dẫn thiền định căn bản để sau đó khi về nhà người ta có thể áp dụng có kết quả:

 
1. Ngồi đúng tư thế.
2. Thở vào biết rõ toàn thân; thở ra biết rõ toàn thân.
3. Thở vào giữ thân mềm mại bất động; thở ra giữ thân mềm mại bất động.
4. Thở vào thấy thân này vô thường; thở ra thấy thân này vô thường.
5. Thở vào nguyện lòng thương yêu chúng sanh; thở ra nguyện lòng thương yêu chúng sanh. (khi tâm loạn).
6. Thở vào biết tâm còn phiền động; thở ra biết tâm còn phiền động. (khi tâm yên).
7. Xả thiền

 

 

Sau đây, tôi sẽ đưa ra một vài hướng dẫn thiền định cho quý vị. Về phương-diện thực-hành phương-pháp thiền-định, tùy theo hoàn- cảnh, trình-độ và mục-đích mà sự thực-hành có khác nhau :

 
– Hướng dẫn thiền định quán-chiếu vào lỗi-lầm để tìm phương khắc-phục.
– Hướng dẫn thiền định quán-chiếu vào một vấn-đề tìm ra giải-pháp.
 Hướng dẫn thiền định để tìm một trạng-thái thư-giãn thân tâm.
– Hướng dẫn thiền định quán-chiếu vào từng hoạt-động của thân-xác để luyện sự gom-thần định-trí tăng-cường thần-huệ.

 

– Hướng dẫn thiền định quán-chiếu vào mọi khổ-ách để sống chung hoà-bình với nó, hầu giữ thân tâm được an-tịnh, xa rời đau-khổ.

 

 

Tất cả pháp môn tu đều là phương tiện và kết quả giải thoát giác ngộ mới là cứu cánh, cho nên các tông phái đều chọn Bát Chánh Đạo là điểm quy đồng chung để xây dựng sự hòa hợp trong đạo Phật. Trên bước đường tu tập cần thông tỏ tất cả các pháp môn để tùy duyên hóa độ cho chúng sinh đạt đến mục tiêu chung, tuyệt đối tránh tình trạng ca ngợi tông phái của mình, công kích, chê bai tông phái khác…

SHARE
Previous articleTHIỀN ĐỊNH là gì?
Next articleTHIỀN NGÔN

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here