Ngồi thiền có tác dụng gì

0
297

Con
người khoẻ hay yếu có quan hệ chặt chẽ với hoạt động tinh thần. Tinh
thần bị kích thích đột ngột hay lâu dài quá độ đều có thể làm rối loạn
hoạt động nội tạng. Tránh những kích thích tinh thần quá độ làm tổn
thương tâm khí chúng tôi xin giới thiệu một phương pháp hiệu quả, đó là
ngồi thiền.

Ngồi thiền là một trạng thái sinh lý giữa
ngủ và thức. Đây là trạng thái ức chế đồng đều các tế bào thần kinh cả
cảm giác và vận động tập trung bắt đầu từ vỏ não.

Thiền có 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Kéo dài 5-10 phút là giai đoạn chuyển từ hoạt động sang trạng thái yên tĩnh, tập trung tư tưởng để nhập thiền.

Giai đoạn 2: Kéo dài 20-40 phút và có thể
kéo dài hơn nữa tuỳ thuộc vào khả năng cơ thể và cách tập luyện. Đây là
giai đoạn nhập thiền và người tập hoàn toàn yên tĩnh, loại bỏ tất cả
suy nghĩ, tập trung điều khiển hố hấp chậm dần. Khi các tế bào thần kinh
bị ức chế sẽ tạo ra cảm giác thư thái và thư giãn cho cơ thể.

Giai đoạn 3: Dần dần trở về trạng thái bình thường, kéo dài 5-10 phút.

Có hai kiểu ngồi thiền:

Ngồi hoa sen: lòng bàn chân phải ngửa lên đùi trái và ngược lại; và ngồi nửa hoa sen lòng bàn chân phải ngửa lên bắp chân trái.

Ngồi tư thế ngay ngắn, cân đối toàn thân
thả lỏng tự nhiên. Tập thiền có thể coi là phương pháp thể dục dưỡng
sinh có tác dụng nâng cao sức khoẻ và bảo dưỡng tinh thần.

 

 

 

Thử nhìn xuống một hồ nước. Khi
mặt hồ yên tĩnh, trong xanh ta dễ dàng nhìn rõ được mọi vật dưới đáy.
Trái lại, khi làn nước gợn sóng, hình ảnh sẽ bị phản chiếu lệch lạc. Bộ
não con người cũng giống như vậy. Khi tinh thần yên tĩnh, tập trung,
tâm trí sẽ sáng suốt. Trái lại, khi có tạp niệm xen vào hoặc lúc lo âu
căng thẳng, sự phán đoán sẽ kém chính xác. Sự căng thẳng sẽ làm mệt bộ
não, cơ thể tiêu phí nhiều năng lượng mà việc giải quyết công việc lại
kém hiệu quả. Một sinh viên thiếu tập trung sẽ khó tiếp thu bài giảng.
Một công nhân đứng máy lơ đểnh sẽ dễ mắc tai nạn lao động. Một nhà
nghiên cứu mà tinh thần không ổn định sẽ khó có thể hoàn thành công
trình của mình. Ngoài ra, trong điều kiện phát triễn của nền văn minh
công nghiệp với tính cạnh tranh cao, con người luôn phải đối mặt với
nhiều loại áp lực thì việc phải gánh chịu stress làm giảm sức đề kháng
và dễ dẫn đến nhiều bệnh tật là điều đáng lo ngại. Từ những thực tế nầy
nhiều người đã tìm đến với thiền.

THIỀN LÀ GÌ?


Nói một cách đơn giản, thiền là những phương pháp giúp hình thành thói quen tập trung tư tưởng để làm đúng công việc mà chúng ta muốn làm và đang làm.
Đặc biệt thiền giúp điều chỉnh lại tình trạng mất cân bằng giữa hưng
phấn và ức chế của hệ thần kinh do quá trình sinh hoạt và làm việc căng
thẳng gây ra.

Có nhiều phương pháp thiền khác nhau, nhưng tựu trung vẫn là giúp
người luyện tập có thể tập trung chú ý vào một điểm ở trong hoặc ngoài
cơ thể, vào một đề tài, một hình ảnh hoặc một câu “chú” nhất định nhằm
đưa cơ thể tiến dần vào tình trạng nhập tĩnh khi tâm không còn bất cứ ý
niệm nào.


CÁC BƯỚC THÔNG THƯỜNG CỦA MỘT LẦN NGỒI THIỀN


1. Chuẩn bị:
Trước khi ngồi thiền, cần hoàn tất các công việc thường nhật trong ngày
để tư tưởng khỏi vướng bận; Tắm rửa sạch sẽ, nới lỏng quần áo; Chọn một
nơi yên tĩnh, thoáng mát, không có ruồi muỗi.

2. Tư thế: Có thể chọn tư thế ngồi xếp bằng thông
thường, ngồi bán già hoặc ngồi kiết già. Lưng thẳng, cằm hơi đưa vào để
cột sống được thẳng. Đầu lưỡi chạm nhẹ nướu răng trên. Hai bàn tay buông
lỏng đặt trên hai đùi hoặc đan chéo nhau để trước bụng, miễn sao hai
tay cảm thấy thoải mái, dễ giãn mềm cơ bắp là được.

Tư thế kiết già (thế hoa sen), đặc biệt thích hợp cho việc ngồi
thiền: Ngồi xếp bằng tự nhiên, dùng hai bàn tay nắm bàn chân phải từ từ
gấp chân lại và đặt bàn chân lên đùi trái, gót chân ép sát bụng, lòng
bàn chân ngửa lên trời. Kế tiếp dùng hai bàn tay nắm bàn chân trái gấp
lại, đặt bàn chân trái lên đùi phải, kéo nhẹ gót chân vào sát bụng, bàn
chân ngửa lên trời.

Các đạo sư Yoga cho rằng vị thế khóa nhau của hai chân trong tư thế
kiết già sẽ tạo sức ép lên hai luân xa ở dưới cùng của cơ thể, khiến
dòng năng lượng có khuynh hướng đi lên để nuôi dưỡng các trung tâm lực
dọc theo cột sống và kiểm soát toàn bộ hệ thần kinh. Những thí nghiệm
khoa học về Yoga cho thấy chỉ cần ngồi tư thế hoa sen, dù ta không cố
gắng tập trung tư tưởng, vẫn có một sự thay đổi ở sóng não từ nhịp Beta
khoảng 20 chu kỳ mỗi giây xuống nhịp Alpha khoảng 8 chu kỳ mỗi giây.
Nhịp Alpha là tình trạng sóng não của một người đang trầm tĩnh và minh
mẫn. Điều nầy có nghĩa là tự thân tư thế kiết già đã có công năng làm
êm dịu thần kinh chưa kể đến những cố gắng khác của việc ngồi thiền.


Kết quả trên cũng phù hợp với những lý luận của y học cổ truyền khi biết
rằng ở thế kiết già, xương mác ở cẳng chân trái đã tạo một sức ép khá
mạnh lên đúng vị trí huyệt Tam âm giao ở chân phải (huyệt Tam âm giao ở
chỗ lõm bờ sau xương chày, trên mắt cá chân trong khoảng 6cm). Như vậy,
trong suốt thời gian ngồi kiết già, huyệt Tam âm giao sẽ được kích thích
liên tục. Tam âm giao là huyệt giao hội của 3 đường kinh âm: Tỳ, Can và
Thận nên tác động kích thích này sẽ có tác dụng “thông khí trệ”, “sơ
tiết vùng hạ tiêu” và điều chỉnh những rối loạn nếu có ở những kinh và
tạng có liên quan, đặc biệt là tác dụng “Dưỡng âm kiện Tỳ” và “Sơ Can
ích Thận” mà các thầy thuốc châm cứu đều biết khi tác động vào huyệt
này. Những người có dấu hiệu căng thẳng thần kinh, những bệnh nhân “Âm
hư hỏa vượng” hay gặp các cơn bốc hỏa về chiều và những phụ nữ đang ở
tuổi mãn kinh sẽ dễ dàng cảm nhận được hiệu quả khi ngồi vào thế kiết
già.

3. Giảm các kích thích giác quan: Một trong những yếu tố
quan trọng để dễ nhập tĩnh là không bị các kích thích bên ngoài quấy
nhiễu. Người xưa gọi là “bế ngũ quan”.

Trên thực tế, những quan sát qua điện não đồ cho thấy chỉ cần nhắm
mắt để loại bỏ thị giác là đã giảm được 50% các kích thích từ bên ngoài.
Do đó, nên nhắm mắt lúc ngồi thiền. Khi nhắm mắt chỉ cần khép hờ để bảo
đảm không có sự căng cơ ở vùng mặt.

4. Giãn mềm cơ bắp: Ngày nay, khoa học đã biết rất rõ
tác động qua lại giữa 2 yếu tố thần kinh và cơ. Khi thần kinh căng
thẳng, trương lực cơ bắp cũng gia tăng. Ngược lại, nếu điều hòa trương
lực cơ bắp ở mức thư giãn thì thần kinh cũng sẽ được ổn định. Chúng ta
dễ dàng nhận thấy điều này khi quan sát một người đang giận dữ. Khi tức
giận, gân cổ nổi lên, cơ bắp căng cứng, bàn tay nắm chặt…; đó là lúc
thần kinh quá căng thẳng. Ngược lại, hãy nhìn một người đang ngồi ngủ
gật trên xe. Lúc người này thiếp đi là lúc thần kinh ở mức thư giãn, tâm
không còn ghi nhận ý niệm gì cụ thể và cơ bắp cũng giãn mềm nên đầu dễ
dàng ngoẹo sang một bên. Vì vậy, trong quá trình hành thiền, việc chủ
động giãn mềm cơ bắp sẽ thúc đẩy nhanh quá trình thư giãn, nhập tĩnh.

Trên thực tế, chỉ cần quan tâm giãn mềm cơ mặt và cơ bàn tay là đủ.
Điều này căn cứ vào hai quy luật: Thứ nhất, mặt và hai bàn tay là những
vùng phản chiếu có các điểm tương ứng với toàn bộ cơ thể, do đó nếu thư
giãn được vùng mặt hay hai bàn tay sẽ thư giãn được toàn thân. Thứ hai,
theo học thuyết Paplop, khi tập trung gây ức chế thần kinh một vùng hoặc
một điểm ở vỏ não (qua hiệu ứng thư giãn) thì sự ức chế này sẽ lan tỏa
gây ức chế toàn bộ vỏ não.

5. Tập trung tâm ý: Đây là giai đoạn chính của buổi
hành thiền. Như đã nói ở phần trên, thiền chính là sự tập trung tư tưởng
vào một điểm hoặc một đề mục duy nhất để dần dần đạt đến tình trạng
trống rỗng, không còn vướng mắc vào bất cứ một ý niệm nào. Để thư giãn
thần kinh hoặc để chữa bệnh, chỉ cần duy trì tình trạng tập trung vào
điểm hoặc vào đề mục tập trung trong một thời gian nhất định là đủ. Điều
quan trọng là nên tập đều đặn hàng ngày, mỗi ngày một hoặc hai lần. Lúc
đầu, ngồi khoảng 15 phút mỗi lần, dần dần tăng lên. Sau một thời gian,
khi não bộ đã ghi nhận thói quen thiền thì việc ngồi vào tư thế, nhắm
mắt, việc đầu lưỡi chạm nhẹ nướu răng trên hoặc ám thị giãn mềm cơ bắp
sẽ hình thành nên những phản xạ có điều kiện để đưa người tập vào trạng
thái thiền định.

Về điểm để tập trung tư tưởng, một vị trí ở vùng bụng dưới mà nhiều
trường phái thường chọn làm điểm tập trung khi ngồi thiền là huyệt Đan
điền, cách dưới rốn khoảng 3cm. Nên tập trung vào điểm này vì nhiều lẽ.

Theo y học cổ truyền, “thần đâu khí đó”. Do đó, khi tập trung vào một
điểm ở vùng dưới cơ thể thì khí và huyết sẽ lưu chuyển về phía dưới,
làm nhẹ áp lực ở vùng đầu, dễ dẫn đến nhập tĩnh.

Đan điền còn gọi là Khí hải hay Khí huyệt, ngụ ý là nơi “luyện
thuốc”, là “bể chứa khí”. Đan điền là một huyệt quan trọng trong việc
luyện dưỡng sinh của các đạo sĩ, các nhà khí công. Có nhiều trường phái
khác nhau và việc tu luyện rất phức tạp. Tuy nhiên, các công phu của
đạo gia nói chung và việc phát sinh nội khí để chửa bệnh nói riêng đều
dựa vào bí quyết “hồi quang nội thị” hoặc “ngưng thần nhập khí huyệt”. Tâm không duyên ra ngoài, hướng đôi mắt vào trong gọi là hồi quang, tập trung thần vào bên trong cơ thể gọi là nội thị. Ngưng thần nhập khí huyệt
chính là tập trung tâm ý tại Đan điền để phát sinh nội khí. Lâu dần
chân khí được sung mãn sẽ khai thông các kinh lạc bế tắt hoặc bồi bổ cho
ngủ tạng để tăng cường sức khoẻ.

Một số người tâm dễ xao động có thể cần một phương pháp kiểm soát tâm
chặt chẽ hơn. Trường hợp này, nên kết hợp quan sát hơi thở với việc tập
trung tại Đan điền bằng cách quan sát sự phồng lên và xẹp xuống tại
bụng dưới. Lúc hít vào bụng dưới hơi phồng lên, lúc thở ra bụng dưới hơi
xẹp xuống. Chỉ cần thở bình thường. Không cần quan tâm đến thở sâu hay
thở cạn, đều hay không đều. Điều quan trọng ở đây là tập trung quan sát
để biết rõ ta đang hít vào hay đang thở ra thông qua chuyển động phồng
lên hay xẹp xuống ở bụng dưới. Sở dĩ chọn quan sát hơi thở ở bụng dưới
mà không phải ở đầu mũi hoặc ở ngực là nhằm tạo quán tính thở sâu kết
hợp với việc phát sinh nội khí ở Đan điền như đã dẫn ở phần trên. Thỉnh
thoảng sẽ có những lúc tâm bị phân tán, các tạp niệm xen vào. Điều này
là bình thường. Chỉ cần khi nhớ ra hãy tập trung trở lại Đan điền hoặc
tiếp tục quan sát hơi thở vào ra là đủ. Lâu dần, những tạp niệm sẽ bớt
đi, thời gian tập trung sẽ dài hơn, hơi thở sẽ đều, chậm và nhẹ hơn, cho
đến lúc không còn ý niệm và quên luôn cả hơi thở. Nếu thường xuyên đạt
đến tình trạng này, có nghĩa người tập đã tiến được một bước rất dài.
Không chỉ là không bệnh tật mà còn là sự tự tin, cảm thông và hoà hợp để
dần dần đạt đến điều mà người xưa gọi là thiên nhân hợp nhất.

6. Xả thiền: Sau khi ngồi thiền, trước khi đứng dậy cần
làm một số động tác để cơ thể hết tê mỏi và khí huyết lưu thông bình
thường. Từ từ buông thõng hai chân, xoay người qua lại nhiều lần, xoay ở
vùng hông và vùng cổ. Dùng hai tay vuốt nhẹ hai bên sóng mũi từ đầu mũi
xuống chót cằm, vuốt ấm vành tai. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho ấm
rồi áp vào mắt. Dùng hai bàn tay xoa bóp dọc theo hai chân, từ đùi dài
xuống bàn chân. Xoa ấm hai lòng bàn chân.

Việc xả thiền tùy thuộc
vào mỗi buổi thiền. Nếu chỉ thiền khoảng 15 phút hoặc khi có công việc
cần đứng lên gấp thì chỉ cần co duỗi hai chân và xoay người, hoặc lắc cổ
qua lại nhiều lần là đủ.

NGỒI THIỀN CÓ GÂY NGUY HIỂM GÌ KHÔNG?


Một vấn đề cuối cùng
mà những người mới tập thiền thường thắc mắc là liệu ngồi thiền có gây
nguy hiểm gì không? Câu trả lời sẽ tùy thuộc vào phương pháp và động cơ
của việc ngồi thiền. Một số phương pháp thiền có phối hợp với vận khí
hoặc có sự hỗ trợ khai mở một số trung tâm lực trong cơ thể nhằm thúc
đẩy nhanh quá trình sinh khí và gia tăng nội lực. Các phương pháp này có
thể gây những nguy hiểm đi kèm nếu người tập thiếu những kiến thức về
khí công, về y học truyền thống hoặc không có đạo sư hướng dẫn để vận
dụng và kiểm soát kịp thời nguồn năng lực mới phát sinh. Trái lại, nếu
ngồi thiền để đạt đến sự tĩnh lặng trong tâm trí, để thư giãn thần kinh
và tăng cường sức khỏe, không vận khí, không bám víu vào bất cứ ảo giác,
âm thanh hoặc hình ảnh nào thì không có gì nguy hiểm

 

 


 

 


  • Thuật ngữ “thiền” có nguồn gốc từ tiếng Trung Quốc “chan” có nghĩa là
    trầm tư, mặc định. Đó là một phương pháp cổ xưa ra đời vào khoảng thế kỷ
    thứ 6. Thiền học không phải là một tôn giáo mà là một môn triết học,
    một nghệ thuật sống. Nói một cách văn học, thiền có nghĩa là ổn định tâm
    thần, khiến cho tinh thần thanh thản, yên bình.


    Tác dụng của Thiền ?

 


  • Tập thiền sẽ thu được những thành quả tinh thần, chúng ta sẽ gặp gỡ bản
    thân ta, hiểu rõ những điều sâu kín nhất trong con người ta. Sống cuộc
    sống của ta, tự nhiên, nhưng theo một cách khác, một ý nghĩa khác. Mục
    đích của thiền không phải là tìm hiểu thế giới mà là để hiểu, để biết
    chúng ta thật sự là ai, là cái gì, làm những gì trong khoảnh khắc hiện
    tại.
  • Tập thiền sẽ giúp đầu óc thảnh thơi, tận hưởng những khoảng
    thời gian yên tĩnh hiếm hoi để tái tạo nguồn năng lượng. Khi ta biết
    cách đạt tới trạng thái ổn định về tâm thần, ta có thể dễ dàng chế ngự
    stress, vượt qua khủng hoảng. Ổn định tinh thần cũng làm tăng cường hệ
    thống miễn dịch, chia sẻ đau đớn để cơ thể không phải một mình đương đầu
    với những nỗi đau thể xác.
  • Tập thiền sẽ tăng cường khả năng làm
    việc, sáng tạo. Khi tập thiền con người rơi vào trạng thái siêu vô thức
    nên trực tiếp diễn giải và giải phóng nguồn năng lượng. Như vậy, tập
    thiền cũng có nghĩa là vệ sinh thân thể, là một trạng thái sống.

    Các phương pháp thiền ?

 

  • Phương pháp thứ nhất:
    là dùng hơi thở theo dõi hơi thở, không nghĩ gì khác. Phương pháp theo
    dõi hơi thở ra vào được đức Phật Thích Ca khen ngợi và trực tiếp truyền
    đạt cho học trò. Trong tập V kinh Tương Ưng, có cả một chương dài, ghi
    lời Phật nói về pháp môn đặc sắc này (kinh Tương Ưng Bộ, chương 10, từ
    trang 463-98, bản dịch: Thích Minh Châu). Hơi thở là biểu hiện cụ thể
    nhất của sự sống, khi thở mà theo dõi hơi thở ra vào với tâm an tịnh,
    thì tác dụng đối với thân và tâm thật không thể lường. Một điều căn dặn
    của các thiền sư từng tu tập lâu năm về pháp môn này, là khi tập hãy giữ
    cho cả thân và tâm thật sự thoải mái, không căng thẳng. Các tạp niệm có
    thể móng lên, hãy cứ để cho chúng qua đi, vì chúng có khác gì mây bay,
    bay đến rồi lại bay đi, bầu trời tức là cái chân thật của chúng ta.
    Không phải vì vài bóng mây thoảng mà mất đi cái lớn lao, cái trong sáng
    vốn có của nó. Thậm chí, các thiền sư Tây Tạng còn khuyên, khi theo dõi
    hơi thở ra vào cũng không cần tập trung tư tưởng quá mức, hãy tập trung
    khoảng 25%, còn thì 75% tâm hãy để cho thư giãn, thoải mái, tâm mình như
    treo giữa hư không, không vướng vào đâu hết. Đúng theo câu kinh Kim
    Cang: “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là cái tâm không trụ vào
    đâu hết, không vướng vào đâu hết.
  • Phương pháp thứ hai: là
    cột niệm vào một vật nhất định, tuỳ mình lựa chọn, có người thì chọn
    ảnh Phật hay là ảnh Bồ-tát, thí dụ ảnh Bồ-tát Quan Âm. Có người chọn đầu
    lỗ mũi hay là một điểm thường gọi là đan điền dưới lỗ rốn.
  • Phương pháp thứ ba:
    là niệm chú Mantra, một phương pháp mà các thiền sư Tây Tạng hay dùng,
    họ tin rằng có những câu chú được các đức Phật hay các vị Bồ-tát truyền
    lại, có một sức mạnh tâm linh đặc biệt truyền lại, có một sức mạnh tâm
    linh đặc biệt có thể giúp cho người niệm chú dễ định tâm. Một câu chú,
    theo truyền thuyết là do chính Bồ-tát Quán Thế Âm tặng cho dân Tây Tạng:
    “AUM MA NI BÁT NÊ HỒNG” nghĩa đen của câu chú là:”AUM: Ngọc Ma-ni trong
    hoa sen”. Theo tôi, giá trị và tác dụng của câu chú, không chỉ là do ở
    Bồ-tát Quán Thế Âm mà còn là do đức tin của người niệm chú, tâm trạng
    của chúng ta khi niệm chú.
  • Nhớ lại, ngày xưa, chúa Nguyễn Khắc
    Chu, một chúa Nguyễn rất mộ đạo Phật, thấy thiền     sư Thạch Liêm trì
    chú mà trời đang mưa tầm tã bỗng nhiên tạnh ráo, bèn nằn nì Sư truyền
    cho câu chú đó, nhưng Sư trả lời: điều quan trọng không phải ở bài chú
    đó, mà là người trì     chú có thanh tịnh, có đức độ thì trì chú mới
    linh nghiệm. Trên đây là câu chuyện của chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725)
    và Sư Thạch Liêm. Còn     hiện nay, thì chúng ta nên tự bảo vệ chúng ta
    không phải bằng những câu chú mà bằng một     nếp sống thiện lành, bằng
    cách giữ cho cả ba nghiệp thân, khẩu, ý đều thanh tịnh, trong     sạch.
    Muốn sống được an toàn trong một xã hội nhiễu nhương, thì cách bảo vệ
    tốt nhất là     sống nếp sông thiện lành, đó là lời khuyên của đức Phật
    trong kinh Pháp Cú, trong một xã     hội đầy tội ác, thì người sống
    thiện cũng như bàn tay không thương tích nhúng vào bát     thuốc độc
    không có can hệ gì.

Một cách tự bảo vệ nữa là
hành thiền. Bởi lẽ nhờ hành thiền, nhất là tập phép hành thiền     niệm
hơi thở ra vào, thì thần kinh hệ an ổn, đỡ bệnh tật, thân có sức khoẻ,
lại dẻo dai bền     bỉ. Hơn nữa, nhờ tập thiền mà con người luôn thoải
mái, tỉnh giác, đỡ phạm sai lầm, đỡ bị     dục vọng chi phối, sai sử.

  Cách luyện tập thiền ?

Để làm quen với thiền tại nhà, chúng ta cần tìm hiểu kỹ ba giai đoạn cơ bản sau     đây của     thiền:

  • Trước khi thiền.
    Đây là giai đoạn chuẩn bị, những điều bạn cần làm trong giai đoạn này
    là vệ sinh thân thể sạch sẽ, chọn mặc loại trang phục thoáng rộng để
    thật sự cảm thấy thoải mái và tìm một nơi thật yên tĩnh để chuẩn bị ngồi
    thiền. Tốt nhất là chọn không gian thiền là một gian phòng thông thoáng
    với ánh sáng không quá tối, cũng không quá sáng.
  • Trong khi thiền.
    Trước khi chính thức ngồi thiền, để giúp tâm trí thật sự thoải mái, nên
    nghe một bản nhạc nhẹ không lời khi đang tiến hành chuẩn bị ở giai đoạn
    một. Việc ngồi thiền lâu cũng có thể khiến cơ thể mệt mỏi, do đó nên
    chọn cách ngồi trên một miếng đệm mỏng (có thể ngồi tựa lưng vào tường
    nếu chưa thật sự thành thục), lưng thẳng, mặt hướng về trước nhưng hơi
    cúi, lưỡi chạm nhẹ vào các gốc chân răng cửa ở hàm trên, mắt nhắm hờ
    hoặc nhìn xuống điểm cách vị trí ngồi khoảng một mét, hai tay buông lỏng
    trên đùi hoặc đan chéo nhau để trước bụng, toàn thân thư giãn tối đa.
    Điểm quan trọng nhất của việc ngồi thiền là phải tuyệt đối giữ tâm trí
    thật lắng dịu, không suy nghĩ đến bất cứ việc gì. Thời gian ngồi thiền
    lâu hay mau phụ thuộc vào khả năng cũng như mức độ thành thục của từng
    người. Bạn không cần phải cố gắng hay nóng vội, hãy để việc ngồi thiền
    được diễn ra một cách tự nhiên nhất. Không ít người phải mất hàng tháng
    trời mới có thể làm quen được với thiền.
  • Sau khi thiền.
    Khi chấm dứt thiền, thay vì vội đứng dậy, nên thực hiện một vài động tác
    nhẹ nhàng. Đầu tiên là từ từ buông duỗi hai chân ra, sau đó xoay hông
    và cổ qua lại vài lần rồi massage nhẹ vùng mặt. Cuối cùng, dùng hai tay
    xoa bóp hai chân, kể cả lòng bàn chân, trước khi đứng dậy.

  Nhưng thắc mắc và câu hỏi thường gặp ?

 

  • Không thể ngồi lâu.
    Nếu rơi vào trường hợp này, cách giải quyết tốt nhất là bạn nên điều
    chỉnh lại tư thế ngồi sao cho thật phù hợp, hoặc chọn phương pháp hành
    thiền (thiền đi bộ) thay cho tọa thiền (thiền ngồi), với những bước nhỏ
    và chậm rãi (mỗi bước tương ứng với một hơi thở ra hoặc vào), mắt hơi
    nhìn xuống. Sau khi đã thành thục, bạn có thể chuyển sang thiền ngồi
    hoặc kết hợp hành thiền và tọa thiền xen kẽ nhau.
  • Khó kiểm soát tâm trí.
    Đây là rắc rối phổ biến nhất với hầu hết những người mới tập thiền. Để
    khắc phục tình trạng này, bước đầu bạn có thể tập trung đếm hơi thở
    trong khi ngồi thiền, đếm từ một đến năm (hoặc mười tùy thích) rồi dừng,
    sau đó đếm lại. Thêm một lưu ý quan trọng khác là bạn nên chọn không
    gian thiền thật yêu tĩnh, tránh những tiếng động mạnh vì chúng rất dễ
    làm tâm trí xao lãng.
  • Chán nản vì hiệu quả mờ nhạt. Lợi
    ích của thiền không biểu hiện một cách tức thì và rõ ràng, do đó bạn
    không nên vội vã hoặc chán nản. Hãy kiên nhẫn tập luyện một cách tự
    nhiên, đừng cố tâm chờ đợi điều gì đó thật phi thường sẽ xảy ra. Tập lâu
    ngày lợi ích của thiền mới đến với bạn.
  • Không có thời gian rảnh.
    Nếu biết thu xếp, vấn đề thời gian chắc chắn không phải là chuyện khó
    giải quyết cho việc ngồi thiền. Vì mỗi ngày, bạn chỉ cần bỏ ra từ 20 đến
    30 phút mỗi sáng sớm hoặc trước khi ngủ để tập thiền.

 

Trong
các trường bao gồm cả đại học, trung học và tiểu học ở Fairfield, Iowa,
học sinh ngồi thiền tập thể 2 lần mỗi ngày. Ngay các khách sạn khu
Catskills ở New York đã trở thành các trung tâm thiền nhanh đến nỗi được
gọi là Buddhist Belt (Vành đai Phật giáo).
Trào lưu thiền định khởi phát có nguyên do từ cả văn hóa lẫn y học. Ngày càng có nhiều thầy thuốc ở Mỹ đề nghị bệnh nhân ngồi thiền như một biện pháp phòng và điều trị các bệnh mạn tính như tim, AIDS, ung thư, vô sinh và đặc biệt là các bệnh rối loạn thần kinh, trầm cảm. “30 năm nghiên cứu đã cho chúng tôi thấy thiền định có tác dụng tuyệt vời trong việc giảm stress“,
Daniel Goleman cho biết. Ông là tác giả của Destructive Emotions – cuốn
sách miêu tả một cuộc đối thoại giữa Đạt Lai Lạt Ma và một nhóm các nhà
thần kinh học. “Nó rèn luyện đầu óc và khiến bộ não linh động”. Các kỹ
thuật quét ảnh não tân tiến cho thấy thiền có thể “rửa” lại não, giải
tỏa các khu vực căng thẳng vì máu ở trong tình trạng ách tắc…

Bộ não, như cơ thể, có thể trải qua những thay đổi cực nhỏ trong thiền
định sâu. Năm 1967, giáo sư Herbert Benson ở đại học Y Harvard đã tiến
hành nghiên cứu trên 36 người thiền định và thấy rằng khi ngồi thiền họ
dùng lượng oxy ít hơn bình thường 17%, giảm 3 nhịp tim/phút và tăng sóng
theta ở não – hệt như trạng thái trước ngủ – trong khi toàn não vẫn
tỉnh táo. Những năm 70, Benson còn chứng minh rằng người ngồi thiền có thể đạt được trạng thái tỉnh táo hơn và hạnh phúc hơn.
“Tất cả những gì tôi làm là dùng logic sinh vật học để giải thích thứ
kỹ thuật được con người đã dùng hàng nghìn năm nay”, Benson nói.

7 năm sau, tiến sĩ tâm thần học Gregg Jacobs, Đại học Harvard, qua ghi
sóng não đã phát hiện ra rằng những người thiền có thể sản ra rất nhiều
sóng theta và có thể phong tỏa phần não trước vốn nhận và xử lý cảm
giác, ngoài ra họ cũng giảm thiểu hoạt động ở phần thùy đỉnh não, nơi
phụ trách các cảm giác về không gian – thời gian. Bằng cách “tắt” thùy
đỉnh não, người ta có thể mất cảm giác về giới hạn và thấy vũ trụ “trở
thành một”.


Công nghệ dựng
ảnh não ra đời càng thúc đẩy thêm các nghiên cứu. Năm 1997, nhà thần
kinh học Andrew Newberg, thuộc Đại học tổng hợp Pennsylvania, đã dùng
tia phóng xạ để xem áp lực máu trong não của một nhóm các thiền sư và
phát hiện rằng khi họ nhập định, não của họ không “tắt” mà chỉ phong tỏa
các thông tin lên thùy đỉnh não. Nghiên cứu thiền định đã có bước đột
khởi vào tháng 3/2000 khi Đạt Lai Lạt Ma gặp gỡ các nhà thần kinh học ở
Ấn Độ và yêu cầu sử dụng các kỹ thuật dựng ảnh não hiện đại nhất để quan
sát các đại sư thiền định (gắn đầy các điện cực). Các kết quả thu được
sẽ được thảo luận vào tháng 9 tới.

Người Mỹ đang say mê thử các kỹ thuật thiền như Vipassana (tập thở),
thiền hành (đi bộ chậm trong tỉnh giác), TM (thần thiền, bằng cách nhắc
đi nhắc lại những thần chú tiếng Phạn), Dzogchen (tỉnh giác) và thậm chí
cả thiền vũ (nhảy theo nhạc). Roger Walsh, giáo sư triết học, tâm thần
học, Đại học tổng hợp California, nói: “Chỉ những năm gần đây tâm thần
học phương Tây mới nhận ra hội chứng nhiễu loạn chú ý (không tập trung
được). Nhưng các thiền giả phương Đông đã biết từ hàng nghìn năm trước
rằng con người luôn bị nhiễu loạn chú ý mà không ý thức được”.

Hơn 10 năm trước, tiến sĩ Dean Ornish đã khẳng định thiền cùng với yoga và ăn kiêng
có tác dụng giảm thiểu sự tích tụ các mảng bám ở động mạch vành. Tháng
4/2003, tại đại hội của Hội Tiết niệu Mỹ, ông đã công bố nghiên cứu rằng
thiền định có thể làm chậm lại sự phát triển của ung thư tuyến tiền liệt.
Tại Đại học Cambridge, John Teasdale chứng minh rằng thiền giúp bệnh
nhân trầm cảm rất hiệu quả và giảm tới 1/2 khả năng tái phát bệnh. Ngoài
ra, Jon Kabat-Zin, người thành lập Trung tâm trị liệu Stress năm 1979,
đã giúp đỡ hơn 14.000 người vượt qua các bệnh đau đớn không cần dùng
thuốc bằng cách tập trung thiền định. “Thiền cực kỳ hữu dụng với những bệnh nhân ung thư, AIDS hay các bệnh đau mạn tính“,
Jon nói. Cũng theo Jon, kỹ thuật thiền định càng hoàn hảo, người ta
càng có nhiều kháng thể và hệ thống miễn dịch của cơ thể càng lớn mạnh.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu mới cũng cho thấy thiền đôi khi có thể thay thế được Viagra vì nó mang lại rất nhiều sinh lực.
Nữ nghệ sĩ Heather Graham bắt đầu ngồi thiền từ 12 năm trước dưới sự
hướng dẫn của David Lynch, đệ tử của Maharishi nổi tiếng. “Thiền định đã
khiến đời tôi đổi khác”, chị nói. “Vào cuối ngày, những chuyện eo xèo
trên phim trường chẳng còn ý nghĩa gì với tôi nữa”. Rất nhiều người Mỹ
nổi tiếng đã ngồi thiền. Như Goldie Hawn, với thiền phòng đầy ảnh Đạt
Lai Lạt Ma và Mẹ Teresa; hay Bill Ford, ông chủ hãng Ford Motors; cả
Hillary Clinton cũng nói đến ngồi thiền; rồi vợ chồng nhà Al Gore. “Cả
hai chúng tôi đều tin tưởng vào cầu nguyện và đặc biệt là thiền định”,
Al Gore, cựu phó tổng thống Mỹ, nói.

 

Nghiên cứu được thực hiện trong phòng thí nghiệm, trên 15 người phụ
nữ bị bỏng nhẹ do áp thiết bị làm nóng lên chân. Những người này được
chia thành 3 nhóm khác nhau, trong đó chỉ có duy nhất một nhóm được tập
thiền, các nhóm còn lại sẽ nhờ đến các phương pháp thư giãn, làm toán.

Các bài tập thiền giúp con người quên đi nỗi đau cơ thể.

Các
tình nguyện viên này phải tham dự 4 buổi tập thiền kéo dài trong suốt 4
ngày, trung bình 20 phút/ngày. Kết quả cho thấy, có đến 57% phụ nữ thừa
nhận họ thấy ít khó chịu tại những vùng da bị tổn thương, không còn đau
rát như trước kia; ngoài ra có 40% cho biết mình không còn sợ hãi, căng
thẳng vì các vết thương.

Ông Fadel Zeidan – tác giả chính của
công trình nghiên cứu này thuộc Trường y Wake Forest Baptist, Bắc
Carolina (Mỹ) cho biết: “Đây mới chỉ là bước nghiên cứu đầu tiên, nhưng
đã cho thấy chỉ một giờ ngồi tập trung thiền định có thể khiến phần não
điều khiển việc nhận tín hiệu các cơn đau tạm “khóa”, nhờ đó làm giảm
các cơn đau không mong muốn. Thiền sẽ dạy cho con người biết rằng, những
bối rối, cảm giác đau đớn chỉ là tạm thời, dần dần sẽ biến mất. Tập các
bài thiền, con người dễ dàng chấp nhận các cơn đau, nhận ra nó là gì,
rồi để nó qua đi, và dành tất cả sự tập trung, chú ý vào những vấn đề
hiện tại”.

Tác giả còn cho biết, các tín hiệu chế ngự cơn đau thu
được từ việc tập thiền được xem là thành quả cao nhất so với các công
trình nghiên cứu tương tự. Trong khi các phương pháp dùng morphine, các
loại thuốc giảm đau khác hay thôi miên cũng chỉ giúp giảm đau được
khoảng 25%.

Trước đây, đã có không ít các công trình nghiên cứu về
thiền trong Phật giáo có tác dụng chữa các căn bệnh của cuộc sống hiện
đại như ung thư, những bệnh bất ổn về tâm lý, bức xúc hay căng thẳng xảy
ra hàng ngày, tạo ra những biến chứng phức tạp khó chữa trị, nhưng chỉ
được xem là liệu pháp tâm linh.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here